Pages

Subscribe:

Sunday, 29 November 2015

NHIỀU ĐÔ THỊ NGẬP SÂU BẤT THƯỜNG (*): Ngập là đương nhiên

Các công trình, dự án xây dựng dày đặc trong khi thiếu quy hoạch tổng thể cho hệ thống thoát nước đã đẩy nhiều đô thị vào cảnh ngập lụt

Theo ông Nguyễn Phú Hữu, Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Đắk Lắk, TP Buôn Ma Thuột - có địa hình cao, xung quanh có nhiều sông, suối thu nước - nhưng xảy ra tình trạng ngập như vừa qua “thật là chuyện lạ thường”.
 
Sai lầm từ quy hoạch
 
Ông Hữu cho rằng ngập lụt ở Buôn Ma Thuột bắt đầu từ quy hoạch. “Hiện nay, trên một số trục đường dài, mặt đường rộng chủ yếu là hệ thống thoát nước dọc, rất ít hệ thống thoát nước ngang. Khi mưa lớn, nước cộng dồn vào hệ thống thoát nước dọc trong khi hệ thống này không đủ thoát nước nên càng về cuối đường càng ngập sâu” - ông Hữu nhìn nhận.

Người dân vất vả lưu thông trong trời mưa, đường bị ngập sâu ở TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Ảnh: XUÂN HOÀNG
Người dân vất vả lưu thông trong trời mưa, đường bị ngập sâu ở TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Ảnh: XUÂN HOÀNG 
 
Việc chống ngập ở Buôn Ma Thuột sẽ không khó nếu cơ quan chức năng thiết kế thêm một số vị trí thu nước ngang trên các tuyến đường. Tuy nhiên, ông Hữu cho rằng ý thức một số người dân hiện chưa cao. “Thấy cống thoát nước bốc mùi, họ lại dùng các vật dụng che chắn miệng cống nên khi mưa là nước chảy tràn qua, không xuống được rãnh thoát nước” - ông Hữu nói.

Trong khi đó, Quốc lộ (QL) 1 đang bị người dân Khánh Hòa, Phú Yên tố là “thủ phạm” ngăn nước thoát dẫn đến tình trạng ngập. Ông Nguyễn Công Định, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Khánh Hòa, cho biết đã lập đoàn kiểm tra về vấn đề này. Hiện tỉnh đã kiến nghị Chính phủ về 16 vị trí ở khu vực Cam Lâm, Cam Ranh cần được giải phóng mặt bằng để thoát nước ra đến đầm Thủy Triều.

Tại tỉnh Phú Yên, theo ông Nguyễn Phụng Ngoạn, Chủ tịch UBND huyện Tuy An, trong đợt mưa vừa qua, lãnh đạo huyện đã kiểm tra, phát hiện nhiều khu vực dọc QL 1 có nguy cơ ngập nặng nếu mưa lớn do hệ thống cống thoát nước không hợp lý.

Chỉ có thể giảm ngập tạm thời
 
Theo ông Nguyễn Thành Trí, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Phú Yên, sở đã đề nghị Ban Quản lý dự án Thăng Long (đại diện chủ đầu tư dự án mở rộng, nâng cấp QL 1 qua tỉnh Phú Yên) tìm cách khắc phục. “Việc khắc phục hiện nay rất khó vì QL 1 đã được nâng cấp, mở rộng nên không thể đặt thêm cống ngang qua QL để thoát nước nhanh. Giải pháp bây giờ chỉ là mở rộng, khơi thông hệ thống thoát nước dọc để thu gom nước mưa về các cầu, cống nhằm tiêu úng mà thôi” - ông Trí nói.

Dự án cải thiện vệ sinh môi trường TP Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) với kinh phí 93,6 triệu USD, triển khai từ năm 2006-2014 vừa hoàn thành hợp phần 1 là hệ thống chống ngập úng, thoát nước và thu gom nước thải. Thế nhưng, tình trạng ngập nước ở thành phố du lịch này vẫn xảy ra.

Ông Châu Ngô Anh Nhân, Giám đốc Ban Quản lý dự án phát triển tỉnh Khánh Hòa, giải thích các tuyến đường ở trung tâm như Trần Quang Khải, Nguyễn Thiện Thuật, Hùng Vương… có cao độ mặt đường thấp hơn nhiều so với các tuyến đường khác nên nước mưa đổ dồn về. Nếu bố trí tuyến cống dẫn nước từ trung tâm có đường kính và độ dốc lớn sẽ phải hạ cao độ của tất cả tuyến đường khác nên phương án này không khả thi. Vì vậy, việc bố trí cống như hiện nay chỉ có thể làm giảm tình trạng ngập chứ không thể giải quyết dứt điểm. Bên cạnh đó, khả năng thoát nước ở các hố ga của dự án rất kém, không phát huy công dụng ngăn mùi của hố ga mà còn làm tình trạng ngập úng trầm trọng hơn.

Kiến trúc sư Nguyễn Hoàng, Hội Kiến trúc sư tỉnh Khánh Hòa, nhận xét tình trạng ngập ở TP Nha Trang hiện nay là đương nhiên vì khi triển khai dự án, mạnh ai nấy làm, san lấp vô tội vạ. Khi quy hoạch tổng thể chưa liên kết nhiều ngành về xây dựng hạ tầng; giải pháp trước mắt để chống ngập ở TP Nha Trang cũng chỉ là tăng cường hệ thống cống ngầm, hố thu nước và mở rộng kênh, rạch thoát nước.

Các ngành chức năng tỉnh Đồng Nai cũng đang đau đầu với tình trạng ngập úng ngày càng tăng ở khu vực trung tâm TP Biên Hòa. Ông Dương Thanh Vũ, Phó Phòng Quản lý đô thị TP Biên Hòa, xác định nguyên nhân TP ngập là do hạ tầng đã quá cũ kỹ. Trong khi đó, tốc độ đô thị hóa nhanh nên các kênh mương bị xâm chiếm nghiêm trọng, các hệ thống đấu nối không đồng bộ khiến nước tràn về nhiều không thoát được. Nhà cửa lấn chiếm kênh rạch, rác rưởi tù đọng và các công trình san lấp, rồi cải tạo sông suối kéo dài nhiều năm liền cũng góp phần chặn nước đọng mỗi mùa mưa.

“TP cũng có nhiều phương án chống ngập nhưng ngân sách eo hẹp, vả lại cần có quy hoạch và phương án đồng bộ thì mới hiệu quả nên hiện nay cũng chỉ có thể khắc phục mà thôi” - ông Vũ chia sẻ.

Bà Trần Thị Lan Anh, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị Việt Nam - Bộ Xây dựng, cho rằng ngập tại nhiều đô thị do các công trình hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn chỉnh hoặc chưa có. Các trục tiêu thoát chính bị bồi lắng, thu hẹp không bảo đảm tiêu thoát nước trong mùa mưa; các công trình đầu mối, cầu cạn, cống thoát chưa tính toán đủ cho nhu cầu thoát nước. Nhiều tuyến giao thông đang biến thành những con đê chắn, cản trở việc thoát nước gây ngập úng cho các đô thị, việc kiểm soát phát triển đập thủy điện, hồ chứa nước tại vùng còn xem nhẹ…

Bà Lan Anh đề xuất khi chọn đất xây dựng đô thị, cần coi trọng cấu trúc tự nhiên, cấu trúc đô thị và quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng vùng, từng đô thị. Khung giao thông vùng, giao thông chính của đô thị phải bám theo địa hình, có hướng xuôi theo hướng chính của dòng nước. Các giải pháp quy hoạch thoát nước đô thị khu vực hạ lưu phải gắn với giải pháp quản lý dòng chảy đầu nguồn, tăng cường diện tích thấm nước, tránh bê-tông hóa trên toàn bộ diện tích xây dựng đô thị.

Dạy học trên… giường bệnh

Ròng rã gần 20 năm nay, căn nhà nhỏ của cô Trần Thị Hoa ở TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã trở thành mái trường miễn phí của những học trò nghèo khó, khiếm khuyết, thiểu năng

Nằm sâu trong hẻm 148 Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Sơn, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là căn nhà cấp 4 của cô Trần Thị Hoa. Năm nay 58 tuổi, với một nghị lực phi thường trên giường bệnh, cô đã dành cả tâm huyết nắn nót từng nét chữ, con số, dạy đánh vần từng tiếng a, b, c… cho những học trò có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn suốt 20 năm qua.
 
Tai nạn bất ngờ
 
Chúng tôi đến thăm cô Hoa vào một chiều cuối tuần. Nằm trên giường bệnh, cô vẫn thoăn thoắt đôi tay móc từng sợi len đan áo để kịp giao cho bạn hàng vào hôm sau. Gác lại công việc đan móc len, cô Hoa kể lại vụ tai nạn mà cô cho rằng sẽ ám ảnh mình đến suốt cuộc đời.

“Hôm đó, vào một buổi chiều cuối tuần tháng 6-1996, tôi nhớ như in có chừng 10 học sinh đến nhà chơi. Lúc này, ổi trong vườn đang chín rộ. Tôi cùng các em ra hái, tính ăn xong rồi sẽ chuẩn bị cho buổi sinh hoạt văn nghệ chào mừng ngày tựu trường năm mới. Nhưng không may, khi leo hái ổi, tôi trượt chân rơi xuống đất. Vụ tai nạn làm tôi gãy xương cột sống và liệt nửa người, nằm riết tới bây giờ” - cô Hoa buồn bã.

Gần 20 năm qua, cô Hoa miệt mài dạy học trò trên giường bệnh
Gần 20 năm qua, cô Hoa miệt mài dạy học trò trên giường bệnh 
 
Trong căn nhà cấp 4, dưới ánh nắng gay gắt ở vùng đất cao nguyên hắt xuống mái tôn đầy oi bức, cô Hoa bồi hồi nhớ lại: “Là người con quê hương miền Trung, cũng chính vì cuộc sống khó khăn nên tôi đã theo gia đình rời Hà Tĩnh vào vùng đất Bảo Lộc xây dựng kinh tế mới từ những năm 1970 để mong có được cuộc sống ấm no hơn. Hồi đó, đất Lâm Đồng còn hoang vu, đồi núi trập trùng”.

Tốt nghiệp Trường Trung học Sư phạm Đà Lạt (nay là Trường CĐ Sư phạm Đà Lạt) ngành tiểu học, cô Hoa nhận nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho những học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số ở Trường Tiểu học Lộc Nam - một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm Bảo Lộc hơn 20 cây số đường rừng. Cô Hoa gắn bó với nơi đây gần 10 năm (1981-1991). Đến năm 1992, cô được luân chuyển về Trường Tiểu học Lộc Thanh, TP Bảo Lộc.

Về gần nhà, gần gia đình chưa được bao lâu, niềm vui chưa kịp vơi thì vào mùa hè 1996, tai nạn đáng tiếc ập đến với cô Hoa. Ngã từ trên cao xuống, cô bị gãy xương cột sống và liệt nửa thân người vĩnh viễn. Vậy là cô đành phải nuốt nước mắt rời xa trường lớp sau nhiều năm gắn bó.

“Hôm bác sĩ nói đôi chân không thể nào cứu chữa được, tôi buồn não ruột rồi khóc như chưa bao giờ được khóc. Với nhiều người, đó là quãng thời gian cay đắng, suy sụp hoàn toàn nhưng tôi lại tìm vận may trong sự không may mắn đó. Dù không đi lại được, không lên lớp được nhưng tôi vẫn có học trò” - cô Hoa tâm sự. Cuộc sống muôn hình vạn trạng, mỗi người mỗi cảnh nhưng cô Hoa là một minh chứng cho nghị lực phi thường, vượt qua mặc cảm để vươn lên, bất chấp những điều không may mắn.

Bằng cả tấm lòng
 
Thời gian trôi qua thật mau, giờ đây, cô Hoa đã không còn mặc cảm và tự ti như trước nữa. Thế nhưng, khi biết chúng tôi có ý định tìm hiểu để viết về mình, cô liền ngại ngùng từ chối.

“Ngày qua ngày, tôi chủ yếu nằm liệt trên giường bệnh, cũng có khi ráng ngồi xe lăn di chuyển. Hoàn cảnh như vậy nên tôi chủ yếu kèm cặp con em những gia đình nghèo khó, dạy các cháu thiểu năng học từ lớp 1 đến lớp 8. Biết gì dạy đó, không có gì đặc biệt để nói đâu…” - cô phân trần.

Ngoài giờ lên lớp, cô Hoa nhận đan móc len kiếm thêm thu nhập
Ngoài giờ lên lớp, cô Hoa nhận đan móc len kiếm thêm thu nhập 
 
Cô Hoa cho biết chuyện bắt đầu từ việc ở xóm có một cô bé thiểu năng tên Nguyễn Bảo My, vì chưa có giấy khai sinh nên không được đến lớp. Sẵn niềm đam mê nghề nghiệp và tình cảm mến yêu học trò, cô không đành lòng nên đã nhận lời dạy My viết chữ, làm toán. Cũng từ nhân duyên đó mà lớp học đặc biệt “hai không” (không bảng đen, không phấn trắng) ngay trên giường bệnh của cô ra đời.

Ròng rã gần 20 năm nay, căn nhà nhỏ của cô Hoa đã trở thành mái trường của những học trò nghèo khó, thiểu năng. Mỗi em là một số phận đặc biệt, không may. Có em vì gia đình quá khó khăn, không đủ tiền trang trải nếu học ở các trường chính quy. Có em mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải sống với ông bà. Có nhiều em khiếm khuyết, gia đình không đủ điều kiện cho học các trường chuyên biệt…

Học trò của cô Hoa còn là những em khuyết tật, thiểu năng ở nhiều lứa tuổi khác nhau, học ở trường không tiếp thu được bài vở và không thể theo kịp bạn bè; là những học sinh bình thường đến nhờ kèm cặp thêm… Với em nào, cô Hoa cũng đón nhận bằng cả tấm lòng.

Các lớp học của cô Hoa hầu như miễn phí, không đặt nặng chuyện tiền bạc mà tùy lòng hảo tâm của phụ huynh. Mỗi tháng, các phụ huynh hỗ trợ cô khoảng 700.000 đồng, cộng với số tiền trợ cấp 480.000 đồng.

Thời gian rảnh rỗi, cô Hoa tranh thủ đan móc len, vừa kiếm thêm thu nhập, tránh nhàm chán vừa tìm niềm vui để quên đi nỗi buồn bệnh tật. “Quan trọng là tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Tôi sống được như hôm nay là nhờ niềm vui, niềm động viên, an ủi rất ngây thơ của các học trò đấy” - cô bày tỏ.

Chưa thể nghỉ ngơi
 
Qua ngần ấy năm, cô Hoa vẫn nằm đó, trên chiếc giường bệnh cũ kỹ của mình. Thế hệ học trò đầu tiên của cô đã bắt đầu vào đại học. Nhiều người còn đạt danh hiệu học sinh giỏi trong các kỳ thi cấp tỉnh, cấp quốc gia. Không ít người thành đạt, có công ăn việc làm ổn định.

Sức khỏe của cô Hoa ngày một yếu đi. “Nhiều lần tôi đã tính đến chuyện nghỉ ngơi nhưng bé Nguyễn Bảo My, cô học trò gắn bó với tôi gần 10 năm nay, nói như mếu: “Mẹ Hoa không dạy nữa thì con và những em nhỏ ở đây sẽ đi đâu?”. Vậy thì sao mà nghỉ được” - cô bộc bạch.

Cô Hoa cũng cảm thấy không an lòng nếu nghỉ dạy học, vì không thể bỏ dở việc đào luyện cho những học trò “cá biệt”. Chẳng hạn cậu bé Cao Khoa, 8 tuổi, sức học rất chậm. Để nhận biết được mặt chữ, làm vài bài toán đơn giản… với Khoa là chuyện hết sức khó khăn nhưng sau thời gian ngắn theo học cô Hoa, giờ cậu đã bắt đầu ghép được chữ, cộng trừ được 2 chữ số…

Từ bục giảng đến văn đàn: Xuất sắc Đào Duy Anh

Trong hơn 60 năm, Đào Duy Anh say sưa, miệt mài lao động và đóng góp xuất sắc trong nhiều lĩnh vực văn hóa dân tộc. Trong đó, nổi trội hơn cả là các bộ môn từ điển, lịch sử và dịch thuật

Năm 1956, khi mới đặt chân vào giảng đường ĐH, sinh viên Khoa Văn chúng tôi - cả Sư phạm và Tổng hợp cùng lên lớp chung - may mắn được học một số buổi về lịch sử cổ đại Việt Nam do thầy Đào Duy Anh lên lớp. Bị cuốn hút bởi nội dung uyên bác và cách giảng dạy điềm đạm, cẩn trọng của thầy, vài người chúng tôi hễ có dịp là tranh thủ lén dự nghe các buổi giảng khác của thầy cho sinh viên Khoa Sử. Gần 60 năm đã qua đi, chúng tôi vẫn nhớ mãi thầy cũng như những người cha tinh thần khác.
 
Tích cực nhập cuộc
 
Có người bảo quê thầy Đào Duy Anh ở Thanh Hóa, hóa ra không phải. Gần thầy mới được biết nguyên quán của thầy là Hà Đông, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai (nay thuộc Hà Nội). Do nghèo và muốn đổi đời nên gia đình chuyển vào Thanh Hóa từ đời ông nội. Dù gia cảnh không khấm khá hơn bao nhiêu nhưng ông bà thân sinh của thầy vẫn hết sức tằn tiện để có tiền cho con ăn học. Sáu năm học chữ Hán, 11 tuổi mới vào trường tiểu học nhưng 19 tuổi, thầy đã tốt nghiệp Trường Quốc học Huế.

Sống trong hoàn cảnh nô lệ, như mọi thanh niên trí thức chân chính khác, Đào Duy Anh hăng hái tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp. Thầy gần gũi, học hỏi cụ Phan Bội Châu. Thầy cộng tác mật thiết với cụ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ nhiệm Báo Tiếng Dân và được giao làm thư ký tòa soạn.

Năm 23 tuổi (1927), thầy tham gia thành lập Đảng Tân Việt. Trong ban thường vụ của tổ chức này có nhà cách mạng về sau rất nổi tiếng: ông Phan Đăng Lưu. Đào Duy Anh được cử làm Tổng Bí thư của Tân Việt Cách mạng Đảng.

Học giả - nhà giáo Đào Duy Anh Ảnh: TƯ LIỆU
Học giả - nhà giáo Đào Duy Anh Ảnh: TƯ LIỆU 
 
Louis Marty, quan chức thực dân khét tiếng tàn ác của Pháp, đã ra tay đàn áp tổ chức chính trị này. Thầy Đào Duy Anh cùng người vợ chưa cưới, bà Trần Như Mân, bị bắt giam hơn 1 năm. Cuối năm 1930, 2 người được phóng thích với án treo 3 năm tù. Từ đấy, trong không khí khủng bố ngột ngạt của chính quyền thuộc địa, Đào Duy Anh chuyển hẳn sang hoạt động văn hóa với tâm niệm: Góp phần nâng cao dân trí. Xuất phát từ động cơ cao đẹp ấy, thầy đã lấy bút hiệu là Vệ Thạch.

Thế nhưng, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong không khí sôi nổi chung của cả nước, Đào Duy Anh tích cực nhập cuộc. Thầy nhận danh hiệu giáo sư ĐH Văn khoa (1945) và tham gia Ban Vận động Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1946).

Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, thầy hoạt động tại Chi hội Văn nghệ Liên khu IV. Mấy năm sau (1950), thầy ra Việt Bắc, công tác trong Bộ Giáo dục, phụ trách Ban Sử Địa thuộc Vụ Văn học Nghệ thuật. Năm 1953, thầy trở lại với bục giảng, là giáo sư sử học lớp dự bị ĐH ở Thanh Hóa.

Tính đến lúc qua đời (1-4-1988), trong hơn 60 năm, Đào Duy Anh say sưa, miệt mài lao động và đóng góp xuất sắc trong nhiều lĩnh vực văn hóa dân tộc. Trong đó, nổi trội hơn cả là các bộ môn từ điển, lịch sử và dịch thuật.

Những trước tác vô giá
 
Cho đến nay, nói đến lĩnh vực từ điển - loại sách công cụ quan trọng hàng đầu, học giới vẫn phải trân trọng ghi công nhà từ điển học Đào Duy Anh. Ông đã biên soạn xong bộ “Hán Việt từ điển” (40.000 từ) lúc mới 27 tuổi, chỉ trong hơn 1 năm (in năm 1932). Bộ “Pháp Việt từ điển” quy mô đồ sộ hơn mà cũng chỉ sau gần 3 năm đã hoàn thành (in năm 1936). 40 năm sau, thầy lại cho công bố một bộ từ điển độc đáo, chuyên dụng: “Từ điển Truyện Kiều” (1974).

Khi cùng các học giả Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Hoài Thanh... nhận nhiệm vụ giáo sư ĐH Văn khoa tại Hà Nội (1946), thầy Đào Duy Anh chuyên tâm nhiều hơn đến lĩnh vực lịch sử. Thực ra, trước đó, thầy đã có những công trình nghiên cứu đặc sắc về lĩnh vực này, như: “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938), “Trung Hoa sử cương” (1944) nhưng chỉ từ đây, thầy mới dành nhiều thời gian, công sức vào chính sử.

Ba công trình quan trọng nhất của thầy: bộ “Cổ sử Việt Nam” (1955, 8 chương, non 400 trang), bộ “Lịch sử Việt Nam” (1957, 56 chương, hơn 900 trang) và bộ “Đất nước Việt Nam qua các đời” (1964, 15 chương, hơn 500 trang) không chỉ được giới trí thức trong nước hoan nghênh mà nhiều học giả thế giới cũng đánh giá cao. Viện Đông phương học - Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô và Viện Khoa học Trung Quốc đã cho dịch, xuất bản rất sớm.

Một lĩnh vực khác, thầy cũng đã có những đóng góp thầm lặng nhưng rất có ý nghĩa: dịch thuật và hiệu đính. Chỉ tính trong 6 năm, từ đầu năm 1958 đến lúc về hưu (1964), khi thôi chức Chủ nhiệm Khoa Sử ở Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội và chuyển về công tác ở Viện Sử học, thầy tham gia dịch và chịu trách nhiệm hiệu đính những bản dịch do các cụ nho học đã thực hiện. Đó là hàng loạt tài liệu sử học rất quý của người xưa, tất cả trên dưới 10.000 trang in.

Có lẽ cũng không cần nói thêm dài dòng về các công trình khác của thầy thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội. Chẳng hạn, về triết học như “Khổng giáo phê bình tiểu luận” (1943), về ngôn ngữ như “Chữ Nôm - nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến” (1975), về văn học như “Khảo luận về Truyện Kiều” (1958). Và tác phẩm cuối cùng, cuốn hồi ký “Nhớ nghĩ chiều hôm” (khởi thảo năm 1980, xuất bản năm 1988) của thầy khiến nhiều thế hệ người đọc xúc động về giọng kể từ tốn, điềm đạm cũng như về thái độ trung thực, đúng đắn, bình tĩnh…

Trong một đêm khó ngủ của tuổi 84, Đào Duy Anh đã nhớ lại 2 câu thơ tâm sự của Nguyễn Du “Bất tri tam bách...” và thầy đã cảm hứng, bộc bạch tâm sự bản thân: “Ông hỏi đời sau ai khóc mình?/ Mà nay bốn bể lại lừng danh/Cho hay hết thảy đều mây nổi/Còn với non sông một chút tình”.

Tình của thầy đối với lịch sử dân tộc và với văn hóa dân tộc, chúng ta ai cũng trân trọng. Và những trước tác vô giá của thầy, chắc chắn không phải là phù - vân - mây - nổi. Chúng sẽ có chỗ đứng xứng đáng trong kho tàng học thuật của nước nhà. Thầy hết sức xứng đáng với Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 năm 2000 - mà nếu trao tặng đợt 1 mới thật hợp lẽ. Thầy cũng xứng đáng với sự đánh giá của “Từ điển Bách khoa Larousse” (Pháp, 1968): “Đào Duy Anh là một tên tuổi lớn trong các nhà bách khoa toàn thư hiện đại”.

Vụ 3 mẹ con chết bất thường: Chị Nguyên rất hiếu thảo!

Nhiều người dân sống quanh căn nhà xảy ra vụ án nhận xét chị Đỗ Thị Ái Nguyên là người hoà nhã với hàng xóm, là người mẹ đảm đang và đặc biệt là người con dâu hiếu thảo.

Cụ Nguyễn Hồ Ngọc Thảo (76 tuổi, gần nhà nạn nhân) xúc động: "Tội nghiệp con nhỏ, nó hiền và sống rất hoà đồng với mọi người. Buổi sáng mỗi ngày nó chở con đi học rồi về đi chợ, giặt giũ quần áo, nấu ăn cho con. Trưa thì tất tả chạy lên trường đón con về"

Do sống một mình, chồng đi làm thường xuyên xa nhà nên chị Nguyên sau khi cơm nước xong thường sang gia đình chồng gần đó để phụ việc. Cách đây vài tuần, bà nội chồng bị té gãy chân không đi được thì một tay chị Nguyên tắm rửa, đút cơm cháo và lo luôn phần vệ sinh cho bà.

Nói về điều này, bà Trần Thị Thắm (67 tuổi) nghẹn ngào: "Hiếm có nàng dâu nào hiếu thảo như con Nguyên, bà nội chồng nằm một chỗ một tay nó lo hết. Mới có 30 tuổi, nó còn quá trẻ...".

Chúng tôi hỏi đêm xảy ra sự việc có ai nghe chị Nguyên kêu cứu hay không thì những người xung quanh đều lắc đầu. Một người sống gần đó nói: "Sáng ra nghe mẹ chồng nó la thất thanh tui mới chạy qua thì thấy con Nguyên mặc quần ngắn chết ở cửa, nằm ngửa và trợn mắt. Ngoài ra không ai nghe tiếng động hay cầu cứu gì hết".

Bé Như đang hồi tưởng về mẹ và 2 em
Bé Như đang hồi tưởng về mẹ và 2 em 

Cháu Nguyễn Thị Bích Như (12 tuổi, con gái đầu chị Nguyên) nói: "Con học được 2 tiết đầu thì nghe cô giáo nói mẹ và em con gặp nạn. Cô cho con về. Lần cuối cùng con gặp mẹ cách đây 2 ngày, hôm qua mẹ có nói dẫn hai em qua nhà nội ngủ với con nhưng mẹ không qua. Con nghe nội nói hồi nhỏ con khó nuôi nên cha mẹ nhờ nội nuôi giùm, con sống với nội từ nhỏ nhưng con thương yêu ba mẹ con nhất"

Mẹ ruột chị Nguyên cho biết: "Chủ nhật này là đám cưới em nó, trước đó nó có về phụ nhưng tôi không nghĩ đó là lần cuối gặp con".

Một đời dạy văn, một đời viết văn

Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Lê Trí Viễn không chỉ miệt mài trên bục giảng mà còn say mê trước bàn viết, vừa góp phần đào tạo không biết bao nhiêu công dân ưu tú vừa để lại cho đời một lượng công trình thật đáng nể

Tôi cứ nghĩ, trong hàng triệu người đã và đang gắn bó với ngành giáo dục nước ta, số vị đạt đến tuổi 90 “thượng thượng thọ” là hiếm. Và càng cực hiếm, đến mức có thể đếm không hết ngón tay của một bàn tay, số bậc trưởng thượng theo nghiệp trồng người thủy chung từ thuở thanh xuân cho đến ngưỡng tuổi chót vót này. Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Lê Trí Viễn thuộc số cực hiếm đó. Trước khi thanh thản ra đi vào cõi vĩnh hằng (năm 2012) không lâu, thầy vẫn gắn bó với ngành giáo dục, với tư cách một nhà nghiên cứu và trên cương vị hiệu trưởng một trường THPT tư thục thuộc loại lớn nhất TP HCM.
 
Cực hiếm, cực quý
 
Không những cực hiếm mà còn cực quý ở chỗ GS Lê Trí Viễn không chỉ miệt mài trên bục giảng mà còn say mê trước bàn viết, vừa góp phần đào tạo không biết bao nhiêu công dân ưu tú vừa để lại cho đời một lượng công trình thật đáng nể cả về số lượng lẫn chất lượng. Thầy hoàn toàn xứng đáng với những danh hiệu cao quý mà nhà nước tôn vinh.

Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Lê Trí Viễn Ảnh: TƯ LIỆU
Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Lê Trí Viễn Ảnh: TƯ LIỆU 
 
“Từ điển văn học bộ mới” (NXB Thế giới, 2004) có mấy dòng vắn tắt chưa thật đầy đủ về thầy. Bản “lý lịch trích ngang” tuy sơ sài ấy nhưng nói lên nhiều điều, buộc thế hệ hậu sinh chúng tôi phải suy nghĩ để noi gương.

Thứ nhất, lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm rất cao của thầy đối với bất cứ đối tượng nào mà thầy tham gia đào tạo. Trong non 70 năm làm nghề trồng người, thầy đã kinh qua đủ các cấp từ tiểu học, trung học, ĐH, sau ĐH; từ lớp nhất ở trường quê nghèo Bảo An (Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) đến việc hướng dẫn thành công vài mươi thạc sĩ, tiến sĩ thuộc các trung tâm đào tạo chuyên ngành ngữ văn ở Hà Nội, TP HCM. Ở cấp học nào, dù tham gia giảng dạy ngắn hạn hay gắn bó vài thập kỷ, thầy đều để lại những kỷ niệm khó quên trong tâm trí vô số học trò.

Nghĩ về thầy, tôi còn nghĩ đến tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm. Chắc trong số nhiều chục ngàn học sinh các cấp của thầy, ít ai biết rằng dù đã đạt đến trình độ cao đến thế nhưng trước khi lên lớp, bao giờ thầy cũng chuẩn bị lại, chuẩn bị thêm hết sức công phu, tỉ mỉ. Công phu quá nhưng quả là rất đúng đắn, cần thiết nếu muốn giảng dạy thành công.

Được học GS Lê Trí Viễn trước đây hơn 50 năm, chúng tôi còn nhớ như in tác phong mẫu mực của thầy: vào lớp đúng giờ, kết thúc bài giảng đúng giờ, cúi chào đáp lễ học trò rất trang trọng. Khi giảng, thầy muốn - đôi khi hơi cực đoan - cùng người nghe đi đến kiệt cùng của những ý tình cao đẹp cũng như cảm nhận sâu sắc sự lung linh ảo diệu của ngôn từ, hình ảnh.

Thứ hai, để đảm đương nhiệm vụ giảng dạy ở những cấp học ngày càng cao, thầy đã nêu một gương sáng về công phu tự học, lặng lẽ kiên trì và quyết liệt. Tự học để chiếm lĩnh những tri thức khoa học liên ngành, cần thiết cho việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Tự học để am tường sâu sắc những tác gia kiệt xuất, những nền văn học vĩ đại của nhân loại. Tự học, để từ cái vốn chữ nho khiêm tốn được người cha truyền dạy thuở ấu thơ và trình độ tiếng Pháp còn hạn chế của bậc CĐ tiểu học, sau này thầy nắm vững 2 ngôn ngữ quan trọng bậc nhất ấy...

Thứ ba, cũng như những giáo sư, học giả nổi tiếng khác, thầy đã hình thành cho mình trong nhiều chục năm liền sự gắn kết cần thiết giữa giảng dạy và nghiên cứu. Thầy luận bàn giảng giải trên cơ sở những trang sách in của chính mình và ngược lại, nội dung giảng dạy trên lớp đã gợi hướng cho thầy đi sâu, rất sâu trong các bài báo khoa học và các chuyên luận dài hơi.

Tinh tế, tài hoa, sâu sắc, kỹ lưỡng…
 
Bộ “Lê Trí Viễn toàn tập” (năm 2006) gồm 7 cuốn, non 6.000 trang khổ lớn, là tập đại thành của những ngày thầy miệt mài bên bàn văn, kể cả 15 năm (1963-1978) làm chủ nhiệm Khoa Văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Tổng kết lại, thầy đã công bố 46 công trình, trong đó cộng tác và chủ biên 23 cuốn, riêng thầy có 23 cuốn. Tất cả đều dày dặn, công phu. Thầy tinh tế và tài hoa trong bình và giảng văn. Thầy sâu sắc, kỹ lưỡng trong các công trình văn học sử...

Là một trong những giáo sư văn học hàng đầu, thầy rất quan tâm và tham gia tích cực vào việc viết sách giáo khoa cho học sinh và sách hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên trung học. Công việc này bắt đầu từ năm 1987 và liên tục kéo dài đến tận năm 2000.

Sẽ là một thiếu sót nếu không đề cập những thành công của thầy trong lĩnh vực sáng tác. Có một điều, chẳng bí mật gì nhưng ít người biết, GS Lê Trí Viễn mê văn chương từ thuở niên thiếu và có không ít bạn văn nổi tiếng như Khương Hữu Dụng, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Văn Bổng. Năm 1939, thầy vừa dạy tiểu học cùng trường với nhà thơ Khương Hữu Dụng vừa làm thơ.

Trong kháng chiến chống Pháp, chỉ có hơn 2 năm dạy ở Trường Trung học Phan Bội Châu (chiến khu Tuyên Hóa, Quảng Bình), thầy say sưa sáng tác văn xuôi. Hàng chục truyện ngắn và ký của thầy đã đăng trên các tạp chí văn nghệ của Liên khu IV. Thơ cũng là nơi đặc biệt cuốn hút khiến thầy được thực sự tự do, thoải mái đi về và đó chính là lĩnh vực bộc lộ năng khiếu thẩm mỹ của nhà giáo Lê Trí Viễn...